Hệ thống pháp luật có tác dụng gì?

    Khi sử dụng khái niệm “hệ thống pháp luật” để nói đến pháp luật của nhóm quốc gia hoặcvùng lãnh thổ, nội hàm của nó đã được mở rộng hom rất nhiều. Theo đó, hệ thống pháp luật là “triết học pháp luật và kĩ thuật pháp lí” chung của nhóm quốc gia, vùng lãnh thổ nào đó.
    Một số học giả, thay vì sử dụng thuật ngữ “hệ thống pháp luật” đã sử dụng thuật ngữ “dòng họ pháp luật” (legal family) để chỉ nhóm hệ thống pháp luật có những điểm chung nhất định. Vì vậy, trong các công trình luật so sánh, chúng ta cũng gặp các thuật ngữ như “Dòng họ pháp luật La Mã – Giécmanh (Romano-Germanic family) hay dòng họ pháp luật Anh-Mỹ (Anglo-American legal family hoặc common law), dòng họ pháp luật XHCN (Socialist legal family). René David trong cuốn “Các hệ thống pháp luật trên thế giới đương đại” (Major legal systems in the world today) cũng sừ dụng thuật ngữ dòng họ pháp luật thay cho thuật ngữ “hệ thống pháp luật” khi ông nói về dòng họ pháp luật La Mã – Giécmanh.Nhiều học giả luật so sánh trong các công trình nghiên cứu của mình cũng chấp nhận thuật ngữ “dòng họ pháp luật” để nói đến nhóm hệ thống pháp luật của các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ. Chẳng hạn như Konrad Zweigert and Hein Kotz trong cuốn “Giới thiệu về luật so sánh” cũng sử dụng thuật ngữ dòng họ pháp luật để nói đến nhóm hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, trong công trình của mình, đôi khi ông cũng sử dụng thuật ngữ hệ thống pháp luật để thay thế thuật ngữ dòng họ pháp luật.

Hệ thống pháp luật có tác dụng gì

     Tuy nhiên, trong mỗi truyền thống pháp luật lớn này lại có những truyền thống pháp luật bộ phận. Chẳng hạn, trong truyền thống có truyền thống pháp luật Pháp, truyền thống pháp luật Đức.. Các nhà nghiên cứu cũng có thể nói đến truyền thống pháp luật của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nào đó, chẳng hạn, truyền thống pháp luật Hoa Kì, truyền thống pháp luật Ý hay truyền thống pháp luật Việt Nam… Vì vậy, thuật ngữ truyền thống pháp luật cũng có thể được sử dụng gắn liền với phạm vi lãnh thổ nhất định mà ở đó chi có một hệ thống pháp luật. Hệ thống pháp luật của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ là sự thể hiện rõ nét nhất truyền thống pháp luật của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó bởi vì “hệ thống pháp luật tạo thành bộ phận không thể thiếu của truyền thống pháp luật và ngược lại ”. Nếu truyền thống pháp luật của quốc gia hoặc vùng lãnh thồ là sự hỗn hợp, đan xen của nhiều truyền thống pháp luật khác nhau thì hệ thống pháp luật của quốc gia/vùng lãnh thổ đó cũng phản ảnh tính chất hỗn hợp của truyền thống pháp luật đó. Vì thế, mặc dù khái niệm “truyền thống pháp luật” của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ không đồng nhất với khái niệm hệ thống pháp luật của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhưng việc so sánh truyền thống pháp luật cùa một quốc gia này với truyền thống pháp luật cùa một quốc gia khác cũng không nằm ngoài phạm vi của luật so sánh.
Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : Thủ tục thành lập doanh nghiệp mớihồ sơ thành lập văn phòng đại diện

Đối tượng của luật so sánh không bị giới hạn

     “Văn hoá pháp luật” cũng là thuật ngữ được các luật gia sử dụng để nói đến đối tượng của luật so sánh. Mặc dù quan niệm văn hoá pháp luật là những tư tưởng, những giá trị, những mong muốn và những quan điểm về pháp luật và các thiết chế pháp luật của bộ phận hoặc của một phần công chúng không phải là quan niệm được chấp nhận một cách tuyệt đối nhưng ở mức độ nhất định, quan niệm đó cho thấy rằng “văn hoá pháp luật” tương đồng với “hệ thống pháp luật” (theo nghĩa rộng) và “truyền thống pháp luật” mặc dù chúng không hoàn toàn đồng nhất.
>>> Luật sư giỏi tại Hà Nội

>>> Dịch vụ làm giấy phép lao động

Đối tượng của luật so sánh

    Có thể vì lí do này, có học giả kết luận rằng “văn hoá pháp luật là truyền thống pháp luật ”.Một học giả khác giải quyết mối quan hệ giữa hệ thống pháp luật, truyền thống pháp luật và văn hoá pháp luật bằng nhận định: “Truyền thống pháp luật gắn kết hệ thống pháp luật với nền văn hóa mà hệ thống pháp luật là một phần biểu hiện của nền văn hóa đó. Truyền thống pháp luật đặt hệ thống pháp luật trong bối cảnh văn hoá”Điều này cho thấy sẽ khó có thể tách biệt được một cách rõ ràng các khái niệm “hệ thống pháp luật”, “truyền thống pháp luật” và “văn hoá pháp luật” và vì vậy, khó có thể phủ nhận các công trình so sánh các truyền thống pháp luật hoặc so sánh các nền văn hoá pháp luật khác nhau nằm ngoài phạm vi luật so sánh.

    Như vậy, đối tượng của luật so sánh không hoàn toàn bị giới hạn ở nội dung của các “hệ thống pháp luật” theo nghĩa hẹp của từ này. Để xác định được những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật, ngưởi nghiên cứu cần phải hiểu được các quy định của các hệ thống pháp luật đó. Để hiểu được các quy phạm pháp luật cần phải hiểu chúng được làm ra và được áp dụng như thế nào; và vì thế cần phải hiểu cách thức giải thích các quy phạm pháp luật đó.Để hiểu được cách thức giải thích các quy phạm pháp luật, cần phải hiểu được quan điểm về vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ mà nó tồn tại, tư duy pháp lí của các luật gia nước đó, các nguồn pháp luật và thậm chí phải hiểu được cả cách thức đào tạo các luật gia ở quốc gia đó…


Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : Thủ tục thành lập doanh nghiệp mớihồ sơ thành lập văn phòng đại diện

Phạm vi nghiên cứu của luật so sánh rất rộng

    Do phạm vi và đối tượng của luật so sánh rộng như thế nên các nghiên cứu so sánh pháp luật cổ thể tiến hành so sánh một cách tổng thể, khái quát hệ thống pháp luật này với hệ thống pháp luật khác hoặc so sánh thành tố của hệ thống pháp luật này với thành tố tương ứng trong hệ thống pháp luật khác.
>>> Luật sư giỏi tại Hà Nội

>>> Dịch vụ làm giấy phép lao động

    Từ quan điểm đó, các học giả thưởng phân biệt hai cấp độ so sánh pháp luật làso sánh vĩ mô và so sánh vi mô. Theo đó, so sánh vĩ mô là so sánh những vấn đề cốt lõi của các hệ thống pháp luật như các hình thức pháp luật, các phương pháp tư duy và các thủ tục được sử dụng trong các hệ thống pháp luật đó. Nói một cách cụ thể hơn các nghiên cứu so sánh ở cấp độ vĩ mô tập trung vào các phương pháp xử lí các tài liệu pháp luật, trình tự, thủ tục dể giải quyết các tranh chấp cũng như vai trò của các tài liệu và các thủ tục trong hệ thống pháp luật. Các nghiên cứu so sánh về các vấn đề như kĩ thuật lập pháp, phương pháp giải thích pháp luật, các loại nguồn và giá trị pháp lí của chúng trong hệ thống nguồn của cá hệ thống pháp luật… cũng là những so sánh ở cấp độ vĩ mô.

Phạm vi nghiên cứu của luật so sánh

    So sánh ở cấp độ vi mô tập trung vào các vấn đề cụ thể trong các hệ thống pháp luật. Xét về phạm vi, so sánh vi mô không ba quát toàn bộ hệ thống pháp luật mà nó tập trung vào việc so sánhcác quy phạm pháp luật và các chế định pháp luật của các hệ thon pháp luật; Chẳng hạn, việc so sánh chế định họp đồng giữa các thống pháp luật, so sánh các quy phạm điều chinh vấn đề hiệu của di chúc giữa các hệ thống pháp luật khác nhau là những so sánh ở cấp độ vi mô. Nói cách khác, so sánh ở cấp độ vi mô là so sánh các quy phạm pháp luật được sử dụng để giảiquyết một vấn đề thực tế cụ thể nào đóở các hệ thống pháp luật khác nhau.

    Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng sự phân biệt so sánh vĩ mô và so sánh vi mô chỉ mang tính tương đối. Ranh giới phân chia giữaso sánh vĩ mô và so sánh vi mô không phải khi nào cũng rõ ràng, sự phân biệt giữa hai loại so sánh này rất linh hoạt. Thông thường, việc nghiên cứu so sánh ở cấp độ vĩ mô và so sánh vi mô được thực hiện ngay trong cùng thời điểm, trong cùng công trình nghiên cứu. Điều này có nghĩa là khi tiến hành so sánh ở cấp độ vĩ mô, người nghiên cứu vẫn phải thực hiện các so sánh ở cắp độ vi mô và ngược lại, khi thực hiện so sánh ở cấp độ vi mô thì cũng không thể bỏ qua những so sánh ở cấp độ vĩ mô.

Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : Thủ tục thành lập doanh nghiệp mớihồ sơ thành lập văn phòng đại diện

Nội dung chính của luật so sánh

 >>> Luật sư giỏi tại Hà Nội
>>> Dịch vụ làm giấy phép lao động
Ở đây cần phải nhấn mạnh rằng trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy pháp luật của quốc gia, một số học giả, luật gia vẫn thường viện dẫn các quy định cùa pháp luật nước ngoài và so sánh quy định của pháp luật nước mình; hoặc khi nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật nước ngoài, họ thường so sánh các quy định của pháp luật nước ngoài với pháp luật nước mình.

    Tuy nhiên nếu chi là những so sánh mang tính chất bột phát, ngẫu nhiên thiếu tính hệ thống thì khó có thể xem các so sánh đó là nội dung của luật so sánh.

Nội dung chính của luật so sánh

    Thứ ba luật so sánh không đồng nhất với nghiên cứu pháp luật nước ngoài. Trong quá trình nghiên cứu luật so sánh, các nhà nghiên cứu các luật gia thường so sánh các hệ thống pháp luật của nước ngoài với hệ thống pháp luật của nước mình hoặc so sánh pháp luật của các nước ngoài với nhau. Để làm được điều đó, các luật gia, các nhà nghiên cứu phài tìm hiểu, nghiên cứu về các hệ thống pháp luật nước ngoài một cách toàn diện. Vì vậy, những hiểu biết chính xác về pháp luật của nước ngoài là đòi hỏi không thể thiếu được để có thể tiến hành việc so sánh luật. Tuy nhiên, nếu chỉ trình bày những hiểu biết về hệ thống pháp luật cùa nước ngoài mà không đặt nó trong sự so sánh với các hệ thống pháp luật khác, không xác định những điểm tưorng đồng và khác biệtcủa nó với các hệ thống pháp luật khác thì đó không phải là công trình so sánh luật. Trong thực tiễn, các luật sư thường phải tìm hiểu pháp luật nước ngoài để bảo vệ quyền và lợi ích cho khách hàng của mình; các học giả cũng tìm kiếm thông tin vể pháp luật nước ngoài để nâng cao hiểu biết pháp luật của mình nhưng việc nghiên cứu thuần tuý hệ thống pháp luật nước ngoài không có nghĩa đó là so sánh luật.

    Thứ tư, “một trong những nhiệm vụ quan trọng và thú vị nhất của luật so sánh là cố gắng giải thích những điềm tương đồng và khác biệt. Điều đó có nghĩa là khi đã xác định được những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật hoặc các chế định hay quy phạm pháp luật của các hệ thống pháp luật, người nghiên cứu thường đặt câu hỏi tại sao các hệ thống pháp luật khác nhau lại có những điểm tương đồng và khác biệt đó. Kết quả cùa việc giài thích những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật sẽ giúp cho luật so sánh phát huy được những giá trị của nó đối với lí luận và thực tiễn pháp luật.
Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : Thủ tục thành lập doanh nghiệp mớihồ sơ thành lập văn phòng đại diện

Khái niệm về luật so sánh

KHÁI NIỆM LUẬT SO SÁNH

    “Luật so sánh” là thuật ngữ gây nhiều tranh luận trong khoa học pháp lí trên thế giới. Nhiều học giả trong các công trình của mình đã luận bàn về việc sử dụng thuật ngữ “luật so sánh” trước khi trình bày những vấn đề khác liên quan đến nội dung của nó.

>>> Dịch vụ làm giấy phép lao động

>>> Thủ tục thành lập doanh nghiệp mới

    Trong các ngôn ngữ khác nhau, thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực học thuật này cũng không hoàn toàn thống nhất về mặt ngữ nghĩa. Thuật ngữ “comparative law” trong tiếng Anh  “droit compare” trong tiếng Pháp đều có nghĩa là luật so sánh. Tuy nhiên, thuật ngữ “Rechtsvergleichung” trong tiếng Đức lại có nghĩa là so sánh luật. Trong tiếng Việt, việc sử dụng thuật ngữ “luật so sánh” và “so sánh luật” để nói đến lĩnh vực học thuật này cũng được đề cập trong một số công trình nghiên cứu.

Khái niệm về luật so sánh

    Trong khoa học pháp lí, bên cạnh thuật ngữ “luật so sánh” nhiều thuật ngữ khác cũng được các học giả sử dụng để nói đến lĩnh vực học thuật này như: “lập pháp so sánh”, “luật học so sánh”, “so sánh luật”. Trong đó, thuật ngữ “luật học so sánh” và thuật ngữ “luật so sánh” luôn là trung tâm của sự tranh luận. Có ý kiến cho rằng không nên đồng nhất hai thuật ngữ “luật học so sánh” và “luật so sánh” vì thuật ngữ “luật học so sánh” có nội dung tổng hợp hom, rộng lớn hơn rất nhiều so với thuật ngữ “luật so sánh”. Thậm chí, có học giả đã cố gắng chỉ ra những nội dung cụ thể của “luật so sánh” và “luật học so sánh” để phân biệt hai thuật ngữ này.  Cũng có học giả cho rằng việc sử dụng thuật ngữ “luật so sánh” có thể đem đến nghi ngờ về sự tồn tại của ngành luật mới – ngành luật so sánh, giống như sự tồn tại của các ngành luật khác như luật hình sự, luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình…

    Hơn nữa, những luật gia này cho rằng việc sử dụng thuật ngữ “luật so sánh” không phản ánh được đúng bản chất và nội dung của luật so sánh. Tuy vậy, đa số các học giả lại chấp nhận việc sử dụng hai thuật ngữ này có thể thay thế cho nhau.

    Trong khoa học cũng như trong thực tiễn, việc sử dụng thuật ngữ để chi phạm trù hay sự vật, hiện tượng nào đó chỉ là sự quy ước mang tính chất tương đối mặc dù trong rất nhiều trường hợp, tên gọi của các sự vật, hiện tượng thường được gắn với hình thức hoặc nội dung hay bản chất của chúng.
Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : luật sư giỏi tại hà nộiluật sư uy tín