Phân loại luật so sánh

PHÂN LOẠI LUẬT SO SÁNH

    Có nhiều cách phân loại luật so sánh. Mỗi cách phân loại sẽ dựa vào các tiêu chí khác nhau; vì thế kết quả phân loại cũng không giống nhau. Ngoài việc phân chia luật so sánh thành so sánh vĩ mô và so sánh vi mô như đã trình bày ở trên, dưới đây là một số cách phân loại khác khá phổ biến trong các công trình nghiên cứu luật so sánh trên thế giới hiện nay.

    Dựa vào số lượng các hệ thống pháp luật được lựa chọn để so sánh trongmột công trình so sánh hoặc trong một thời điểm nào đó, các nhà nghiên cứu đã phân biệt hai loại so sánh luật là so sánh song diện và so sánh đa diện. Trong đó, so sánh song diện là việc so sánh hai hệ thống pháp luật với nhau. Nói cách khác, trong công trình so sánh, người nghiên cứu so sánh chi lựa chọn hai hệ thống pháp luật để so sánh. Ví dụ, trong một công trình so sánh, nếu người nghiên cứu chi tiến hành so sánh hệ thống pháp luật của Anh với hệ thống pháp luật của Mỹ thì đó là so sánh song diện. 

Phân loại luật so sánh

Khác với so sánh song diện, so sánh đa diện là việc so sánh nhiều hệ thống pháp luật trong công trình so sánh. Chẳng hạn, người nghiên cứu có thể chọn hệ thống pháp luật Pháp, hệ thống pháp luật Đức và hệ thong pháp luật Mỹ để so sánh. Dựa vào mục đích của các nghiên cứu so sánh, có thể phân chia luật so sánh thành so sánh học thuật và so sánh lập pháp. Theo đó, so sánh học thuật được thực hiện để hỗ trợ các nhà sử học, xã hội học, các luật gia phân tích tìm hiểu nguồn gốc và sự phát trìển của các khái niệm pháp lí chung của tất cả các hệ thống pháp luật. Giá trị to lớn của so sánh học thuật là nâng cao hiểu biết về phápluật của các luật gia và các nhà nghiên cứu pháp luật. Trong khi đó, so sánh lập pháp lại nhấn mạnh vào mục đích thực tiễn của luật so sánh là tập hợp và cung cấp các thông tin liên quan đếnpháp luật nước ngoài và sử dụng những kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thông pháp luật của quốc gia.  Nói cách khác, so sánh lập pháp được hiểu là việc so sánh pháp luật để tìm hiểu kinh nghiệm, mô hình pháp luật nước ngoài phục vụ cho quá trình lập pháp; có nghĩa là sử dụng pháp luật nước ngoài trong quá trình soạn thào các đạo luật mới của pháp luật quốc gia.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: luat so sanh, đối tượng của luật so sánh

Lý giải nguồn gốc của những điểm tương đồng

    Thông thường, các nhà nghiên cứu cố gắng giải thích nguyên nhân của tất cả những điểm tương đồng và khác biệt dã được tìm ra. Tuy nhiên, đôi khi việc giải thích chi cần tập trung vào những điểm tương đồng hoặc những điểm khác biệt giữa các hệ thống pháp luật. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào giả thiết được đặt ra khi lựa chọn hệ thống pháp luật để so sánh.

    Nếu nhà nghiên cứu giả định về các hệ thống pháp luật được lựa chọn để so sánh là tương đồng thì khi tiến hành giải thích có thể chi cần tập trung vào những điểm khác biệt. Ngược lại, nếu giả định ban đầu các hệ thống pháp luật là khác nhau thì việc giải thích chi cần tập trung vào những điểm tương đồng.

những điểm tương đồng

    Cơ sở để lí giải nguồn gốc của những tương đồng và khác biệt là những yếu tố có ảnh hưởng đối với pháp luật. Trong đó có những yếu tổ mang tính tất nhiên mà đáng chú ý là những yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, tôn giáo, lịch sử và địa lí, nhân chủng cũng như các phương tiện điều chỉnh khác đối với hành vi của con người… và có những yếu tố mang tính ngẫu nhiên tuỳ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh của mỗi hệ thống pháp luật.Cần lưu ý rằng tất cả những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật đều có nguyên nhân của nó nhưng có những nguyên nhân chưa thể tìm ra, “các học giả luật so sánh không nên kì vọng rằng mình có thế giải thích được mọi điều ”.Vì thế, nên tập trung việc giải thích nguồn góc của những điểm tương đồng và khác biệt quan trọng nhất giữa các hệ thống pháp luật.

    Sau khi đã lí giải được nguồn gốc của những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật, người nghiên cứu cần phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chê của các hệ thông pháp luật hoặc các giải pháp của các hệ thống pháp luật đã được so sánh. Trong nhiều trưởng hợp, người nghiên cứu nhận thấy rằng giải pháp hoặc hệ thống pháp luật nào đó tốt hon hoặc tồi hơn. Tuy nhiên, thông thưởng các giải pháp hoặc các hệ thống pháp luật có giá trị như nhau.Cuối cùng, nếu mục đích của việc so sánh luật là nhằm cải tổ pháp luật, người nghiên cửu, trên cơ sở đánh giá những ưu điểm và hạn chế của các giải pháp pháp lí đã chọn để so sánh, có thể xây dựng giải pháp pháp lí mà theo hụ là tối ưu nhất hoặc cũng có thể lựa chọn giải pháp của hệ thống pháp luật nào đó để “cấy ghép” vào hệ thống pháp luật của nước mình.


Đọc thêm tại:

Phương pháp phân biệt luật so sánh

     Dựa vào mục đích của việc so sánh để phân biệt luật so sánh mô tả (Descriptive Comparative Law) và luật so sánh ứng dụng (Applied Comparative Law). Trong đó, so sánh mô tả là việc trình bày một cách có hệ thống những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật được lựa chọn đề so sánh.

    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nếu chỉ tập họp và biên soạn thuần tủy các yêu tô của hệ thống pháp luật nào đỏ, thậm chí là việc trình bày song song hoặc thành bảng biểu các thành tổ liên quan đến hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau thì đó cũng không phải là luật so sánh mô tả: “ Việc so sánh này không nhằm mục đích nào khác lở cung cấp thông tin và nó không quan tâm đến việc người thực hiện nghiên cứu này định sử dụng kết quả nghiên cứu này như thế nào”.Khác với so sánh mô tả, so sánh ứng dụng không phải chi đơn thuần nhằm mục đích có được thông tin về hệ thống pháp luật nước ngoài mà nó cần phải xác định mục đích rõ ràng sau khi đã có thông tin về pháp luật nước ngoài. Tuy nhiên, mục đích này cũng không phải chi là mục đích thực tiễn như cải cách pháp luật hay là nhất thể hoá pháp luật mặc dù đây là mục tiêu quan trọng nhất của loại so sánh này. Các mục đích của loại luật so sánh này có thể bao gồm cả việc các nhà trìết học pháp luật hoặc lí luận pháp luật sử dụng việc so sánh để xây dựng các lí thuyết về pháp luật hoặc hỗ trợ các nhà lịch sử pháp luật tìm hiểu nguồn gốc và sự phát trìển của các khái niệm hoặc các chế định pháp luật.

Phương pháp phân biệt luật so sánh

    Ngoài ra, các nhà nghiên cứu so sánh còn có những cách phân loại khác như phân chia luật so sánh thành: Luật so sánh mô tả – đó là việc mô tà các hệ thống pháp luật khác nhau; so sánh phân tích – là việc đánh giá đặc tính của các quy phạm pháp luật của các hệ thống pháp luật trên cơ sở sự so sánh; so sánh lịch sử – đó là việc nghiên cứu sự phát trìển của các hệ thống pháp luật trong mối quan hệ với các hệ thống pháp luật khác.

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRiỂN CỦA LUẬT  SO SÁNH

Sự hình thành và phát trìển của luật so sánh trên thể giới có thể phân chia sự hình thành và phát trìển của luật so sánh trên thế giới thành hai giai đoạn cơ bản là trước thế ki XIX và từ thế ki XIX đến nay.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: luật so sánh, doi tuong cua luat so sanh

Sự hình thành và phát triển của luật so sánh

- Trước thế ki thứ XIX

    Ngay từ thời kì cổ đại, nhiều nhà nước cổ đại đã viện dẫn pháp luật nước ngoài để xây dựng hệ thống pháp luật của mình. Điển hình nhất là nhà nước Hy Lạp và nhà nước La Mã. Trong nhà nước Hy Lạp cổ đại, một số thành phố khi xây dựng luật lệ của mình đã chấp nhận toàn bộ hoặc một phần luật lệ của các thành bang khác. Việc chấp nhận pháp luật của các vùng khác hoặc các thành bang khác ở thời kì cổ đại này có lẽ xuất phát từ lí do là luật lệ của các vùng đó được coi là tốt hơn, tiến bộ hơn. Do đó, đây là cách thích hợp để có luật lệ tốt ở giai đoạn này.

    Bên cạnh việc các thành bang của Hy Lạp bắt chước luật của các thành bang khác, những nghiên cứu so sánh trong các công trình của các nhà khoa học thời kì cổ đại cũng đã được tìm thấy. Trong cuốn sách có tên là “Các luật lệ” (Laws), Plato đã so sánh luật lệ của các thành bang của Hy Lạp; Aristotle cũng đã so sánh luật lệ của 153 thành bang của Hy Lạp để viết cuốn “Chính trị”, Theophrastus trong cuốn “về các luật lệ” (On Laws) cũng đã so sánh các hệ thống pháp luật khác nhau của Hy Lạp…

phát triển của luật so sánh

    Khi nhà nước La Mã mới được hình thành, các luật lệ của La Mã, đặc biệt là Luật 12 bàng cũng đã được xây dựng trên cơ sở việc tìm hiểu luật lệ của Hy Lạp. Cicero và Gaius cho rằng “ủy ban lập pháp đã được gửi đi Aten để nghiên cứu pháp luật của Hy Lạp”.(l> Điều này xuất phát từ cơ sở lịch sử là nền văn minh của Hy Lạp cổ đại đã phát trìển rất rực rỡ và có ảnh hưởng rất lớn đối với nền văn minh của La Mã.

    Trong thời kì thịnh vượng của đế chế La Mã, luật so sánh hầu như không có cơ hội để phát trìển. Các luật gia La Mã không nghiên cứu pháp luật nước ngoài với lí dơ rất đơn giản là theo quan niệm của họ luật La Mã là luật phát trìển nhất xuất phát từ sự thịnh vượng và hùng mạnh của để chế La Mã. Mặt khác, các luật gia La Mãcho rằng pháp luật nước ngoài là “lộn xộn và ngớ ngấn,,vì vậy không có gì đáng quan tâm để học hỏi.

    Đến thời Trung cổ, sau khi đế chế Tây La Mã bị sụp đổ, ở các khu vực của Tây Âu tồn tại hai loại luật song song cùng được áp dụng là luật La Mã và luật Giécmanh. Tuy nhiên, sự tồn tại hai loại luật lệ cùng được áp dụng cũng không làm xuất hiện bất kì công trình nghiên cứu so sánh nào giữa hai loại luật lệ này. Đến trước thời kì Phục Hưng, đã xuất hiện những nghiên cứu khoa học dựa trên cơ sở so sánh. Theo đó, pháp luật của các nhà nước phong kiến, luật giáo hội và những phần khác nhau của luật La Mã trước khi chế độ Tây La Mã sụp đổ đã được nghiên cứu so sánh. Nhở nhũng nghiên cứu này, các học giả thời trung cổ đã mở rộng được sự hiểu biết của mình đối với nhiều hệ thống pháp luật khác nhau trong thời kì đó. 


Đọc thêm tại:

Quan điểm của các trường phái về luật so sánh

     Đến cuối thời Trung cổ, ở châu Ẩu lục địa hầu như không có bất kì một sự nghiên cứu so sánh nào ngay cả khi các trưởng đại học nghiên cứu giảng dạy luật La Mã (mặc dù đấy không còn là luật La Mã thuần túy của thời cổ đại). Theo quan điểm của các trưởng phái này, “Luật La Mã và luật giáo hội là những luật có hiệu lực tuyệt đối và không có gì nghi ngờ” vì vậy cũng không đòi hỏi phải có những nghiên cứu so sánh. Trong khi đó, trong giai đoạn này ở Anh đã có những công trình nghiên cứu so sánh pháp luật của Anh và pháp luật của Pháp. Tuy nhiên, sự so sánh trong các công trình này “thiếu khách quan” chỉ để nhằm khẳng  định “sự tối ưu của pháp luật Anh”.

    Từ thế kỉ thứ XVI, ở các quốc gia châu Âu lục địa tồn tại nhiều loại luật lệ khác nhau được áp dụng cho các vùng lãnh thô khác nhau, vì vậy đã xuất hiện một số công trình so sánh các luật lệ được áp dụng trong cùng quốc gia. Đặc biệt, những so sánh giữa luật La Mã và luật lệ của người Giécmanh đã được thực hiện ở một sổ quốc gia như Tây Ban Nha, Đức.

trường phái về luật so sánh

    Sự phát triển mạnh mẽ của các hệ thống pháp luật của quốc gia trong thế ki XVII và thế ki XVIII đã làm cho các luật gia ở các nước châu Âu lục địa tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật của chính nước mình, vì vậy, luật so sánh hầu như không được phát trìển. Tuy nhiên, một số học giả cũng đã đề xuất rằng các học già cần phải thoát khỏi khuôn khổ của hệ thống pháp luật quốc gia để đánh giá được giá trị đúng của hệ thống pháp luật đó. Đáng chú ý nhất là Montesquieu. Ông đã sử dụng phương pháp so sánh để phát trìển các bài giảng của mình về những quan điểm của trưởng phái pháp luật tự nhiên. Vì thế, nhiều học già sau này đã đánh giá Montesquieu như là người đi tiên phong trong lĩnh vực luật so sánh.

- Từ thế kì XIX đến nay

     Từ thể kỉ thứ XIX đến nay, luật so sánh phát trìển mạnh mẽ với hai hình thức là luật so sánh lập pháp và luật so sánh học thuật. Luật so sánh lập pháp là quá trình theo đó pháp luật của nước ngoài được viện dẫn để soạn thảo các văn bản pháp luật của quốc gia; còn luật so sánh học thuật là việc so sánh các hệ thống pháp luật khác nhau dom giản là nhằm nâng cao hiểu biết về pháp luật.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: luat so sanh, đối tượng của luật so sánh